CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG

Hợp đồng lao động về bản chất là sự rằng buộc trách nhiệm giữa người lao động và người sử dụng lao động trong quan hệ lao động. Theo đó, người lao động thực hiện công việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động và người sử dụng lao động trả tiền lương (thù lao) để cho người lao động thực hiện công việc theo thỏa thuận đó. Việc thực hiện hợp đồng lao động phải đảm bảo tuân theo các quy định của pháp luật lao động về vấn đề này đặc biệt trong đó phải kể đến vấn đề chấm dứt hợp đồng lao động. 
Việc chấm dứt hợp đồng lao động là việc người lao động hoặc người sử dụng lao động chấm dứt hợp đồng lao động đã ký kết và thanh toán mọi quyền và nghĩa vụ đối với nhau. Tuy nhiên, nếu không chú ý đến các quy định của pháp luật liên quan đến vấn đề này người sử dụng lao động hoặc người lao động có thể bị vi phạm các quy định liên quan đến chấm dứt hợp đồng lao động trái luật. Điều này sẽ gây ảnh hưởng đến người lao động hoặc người sử dụng lao động theo một khía cạnh nào đó. Vì vậy, người lao động và người sử dụng lao động có thể tiến hành việc chấm dứt hợp đồng lao động trong một số trường hợp cụ thể như sau:
1. Người lao động và người sử dụng lao động tiến hành việc chấm dứt hợp đồng lao động khi hết thời hạn thỏa thuận trên hợp đồng mà người sử dụng lao động và người lao động không thỏa thuận về việc tiếp tục gia hạn hoặc ký mới thêm hợp đồng lao động. Trừ trường hợp người lao động là cán bộ công đoàn không chuyên trách đang trong nhiệm kỳ công đoàn của mình thì được tiếp tục gia hạn hợp đồng cho đến khi hết nhiệm kỳ thì chính thức được chấm dứt hợp đồng. 
2. Người sử dụng lao động hoặc người lao động chấm dứt hợp đồng lao động khi người lao động đã hoàn thành công việc theo thỏa thuận trong hợp đồng. Trường hợp này thường áp dụng đối với những hợp đồng ngắn hạn, mang tính chất mùa vụ dành cho những công việc nhất định không đòi hỏi tính lâu dài và gắn bó của người lao động với công việc.
3. Người sử dụng lao động và người lao động thỏa thuận về việc chấm dứt hợp đồng lao động. Theo đó, thỏa thuận phải được làm thành văn bản có xác nhận của hai bên về việc thỏa thuận chấm dứt hợp đồng.
4. Chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp:
- Người lao động đủ điều kiện về thời gian tham gia đóng bảo hiểm xã hội là 20 năm theo quy định của luật bảo hiểm xã hội hoặc đủ tuổi về hưu theo quy định đối với nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi 
- Người lao động bị suy giảm khả năng lao động hoặc làm việc trong điều kiện đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc làm việc trong khu vực vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo có tính chất công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc làm việc ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo thuộc danh mực do Chính phủ quy định có thể nghỉ hưu thấp hơn so với tuổi về hưu theo quy định.
5. Người lao động và người sử dụng tiến hành việc chấm dứt hợp đồng lao động khi người lao động bị Tòa án kết án tù giam, tử hình hoặc bị cấm làm công việc ghi trong hợp đồng lao động theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật.
6. Hợp đồng lao động chấm dứt khi người lao động chết hoặc bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc đã chết theo quy định của Bộ Luật dân sự.
7. Hợp đồng lao động chấm dứt khi người sử dụng lao động là cá nhân bị chết hoặc bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là chết; người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động theo quy định của pháp luật.
8. Người lao động bị xử lý kỷ luật sa thải theo quy định của Bộ luật lao động.
9. Người lao động thực hiện việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định và bảo đảm các yếu tố về mặt thời hạn báo trước đối với từng loại hợp đồng lao động.
10. Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật lao động; người sử dụng lao động cho người lao động thôi việc do thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế hoặc do sáp nhật, hợp nhất, chia tách doanh nghiệp, hợp tác xã.
x

Nhận xét

Bài đăng phổ biến