NHỮNG QUY ĐỊNH RIÊNG CỦA BỘ LUẬT LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NỮ
1.1. Khái niệm
Lao động nữa
là lao động từ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động và giao kết hợp đồng lao động.
Có đặc điểm về thể trạng, sức khỏe, sức bền yếu hơn so với lao động thông thường.
1.2. Sự cần thiết phải ban hành những
quy định riêng về việc làm đối với lao động nữ
Trước
hết về mặt sức khỏe, lao động nữ có cấu tạo thể chất yếu hơn lao động nam: về
cơ bắp, sức bền, sức tải,… vì vậy về mặt yếu tố sinh lý, lao động nữ yếu hơn so
với lao động nam nên trong một số công việc nhất định không thể sử dụng lao động
nữ hoặc cùng một điều kiện lao động nữ không thể làm ngang với lao động nam
Thứ
hai, về mặt xã hội lao động nữ là đối tượng có thiên chức làm mẹ, làm vợ, cần
có thời gian để sinh đẻ, nuôi dạy con cái, phân bổ công việc gia đình. Đồng thời,
cũng chịu những áp lực nhất định trong công việc. Nên lao động nữ có phần thiệt
thòi hơn so với lao động nam
Thứ tư, lao động
nữ chịu những ảnh hưởng về bất bình đẳng giới, không có nhiều điều kiện, cơ hội
để học tập nâng cao trình độ xã hội so với lao động nam. Vì vậy, khi tham gia
vào quan hệ lao động lao động nữ thường chịu những thiệt thòi nhất định trong
công việc.
Thứ
năm, tuy có những hạn chế về mặt thể lực, sức khỏe, xã hội, cũng như sự bất
bình đẳng trong quan hệ lao động, nhưng lao động nữ có những ưu điểm nhất định
trội ở tính cần cù, dẻo dai, khéo néo, kiên trì trong thực hiện công việc.
Trong giao tiếp nhẹ nhàng, dịu dàng, ngoài ra còn một số đặc điểm khác,…
2.1. Chính sách của Nhà nước đối với
lao động nữ
Với đặc điểm riêng của mình khi tham
gia vào quan hệ lao động, Nhà nước đặc biệt có những chính sách riêng nhằm khuyến
khích việc làm đối với lao động nữ, đây được coi là là phương hướng điều chỉnh
chung các quy định của pháp luật đối với lao động nữ.
Theo
đó, trước tiên Nhà nước đảm bảo quyền bình đẳng của lao động nữ về việc làm như
đối với lao động nam. Quyền bình đẳng ở đây được hiểu là lao động nữ được tuyển
dụng và tham gia các công việc cũng như nhận được tiền lương, trợ cấp hưởng thời
giờ làm việc thời giờ nghỉ ngơi như đối với lao động nam. Và được hưởng những
chính sách khuyến khích về việc làm và lao động đối với công việc của mình.
Thứ
hai, nhà nước khuyến khích người sử dụng lao động tạo điều kiện để lao động nữ
có việc làm thường xuyên, áp dụng rộng rãi chế độ làm việc theo thời gian biểu
linh hoạt, làm việc không trọn thời gian, giao việc tại nhà, nhằm phù hợp với
điều kiện về mặt thể chất, sinh lý của lao động nữ, phù hợp với các thiên chức
làm mẹ, chăm sóc con cái và gia đình của người phụ nữ.
Thứ
ba, nhà nước có những biện pháp tạo việc làm, cải thiện điều kiện lao động, nâng cao
trình độ nghề nghiệp, chăm sóc sức khoẻ, tăng cường phúc lợi về vật chất và
tinh thần của lao động nữ nhằm giúp lao động nữ phát huy có hiệu quả năng lực
nghề nghiệp, kết hợp hài hoà cuộc sống lao động và cuộc sống gia đình.
Thứ tư, đối với các doanh nghiệp sử dụng
lao động nữ nhà nước có những chính sách giảm thuế nhằm khuyến khích tạo việc
làm cho lao động nữ. Bên cạnh đó, nhà nước còn mở rộng các loại hình đào tạo
thuận lợi cho lao động nữ có thêm nghề dự phòng và phù hợp với đặc điểm cơ thể,
sinh lý và chức năng làm mẹ của phụ nữ. Và một số chính sách khuyến khích khác.
2.2. Quy
định về tuyển dụng, việc làm, an toàn, vệ sinh lao động
Trong vấn
đề tuyển dụng lao động nữ, cũng như đối với việc tuyển dụng lao động thông thường,
người sử dụng lao động có quyền trực tiếp hoặc thông qua các tổ chức giới thiệu
việc làm, tuyển chọn lao động, đồng thời người lao động có quyền giao kết hợp đồng
lao động với bất kỳ ngưởi dụng dụng lao động nào, ở nơi nào mà pháp luật không
cấm. Tuy nhiên, trên cơ sở những đặc điểm riêng về cơ thể, sinh lý, chức năng
làm mẹ mà ngưởi sử dụng lao động vẫn thường có thái độ e ngại, hạn chế sử dụng
lao động nữ, hơn nữa thông thường các chế độ lao động đối với lao động nữ thường
nhiều hơn so với lao động nam nên việc kinh doanh, sản xuất của họ thường bị
suy giảm do phải việc sử dụng lao động nữ.
Chính vì vậy, để đảm bảo quyền lợi cho lao động nữ, pháp luật
nghiêm cấm các hành vi phân biệt đối xử trong việc tuyển dụng lao động nữ. Bảo đảm thực hiện bình đẳng
giới và các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong tuyển dụng, sử dụng, đào tạo,
thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, tiền lương và các chế độ khác. Đồng thời,
cần phải tham khảo ý kiến của lao động nữ hoặc đại diện của họ khi quyết định
những vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích của phụ nữ. bảo đảm có đủ buồng tắm
và buồng vệ sinh phù hợp tại nơi làm việc. Ngoài ra, người sử dụng lao động phải
đảm bảo các điều kiện vệ sinh cho lao động nữ trong quá trình làm việc (phải có
chỗ thay quần áo, buồng tắm và buồng vệ sinh nữ), phải giúp đỡ, hỗ trợ xây dựng
nhà trẻ, lớp mẫu giáo hoặc một phần chi phí gửi trẻ, mẫu giáo cho lao động nữ
(theo như quy định tại Điều 154 Bộ Luật lao động 2012).
Về vấn đề việc
làm, việc làm được hiểu là hoạt động lao động tạo ra thu nhập không bị pháp luật
cấm. Việc tạo ra việc làm cho lao động nữ có ý nghĩa quan trọng trong việc giải
quyết việc làm cho lao động nữ, đồng thời tạo cho họ thu nhập, sự tự chủ về mặt
kinh tế để họ độc lập trong cuộc sống. Chính vì vậy, bên cạnh các chính sách
chung của lao động về vấn đề việc làm, pháp luật cũng có những chính sách khuyến
khích riêng về việc làm đối với lao động nữ như khuyến khích việc xây dựng các
cơ sở lao động cho lao đong nữ bằng các hình thức miền thuế, khuyến khích việc
đào tạo, dạy nghề cho lao động nữ,… để họ các thể tự kiếm việc làm cho bản thân
hoặc tự tạo công việc cho mình. Bên cạnh đó, nhà nước còn có những quy định
riêng cấm việc sử dụng lao động nữ ở một số ngành nghề được quy định tại Điều
160 Bộ Luật Lao động và được hướng dẫn chi tiết tại Thông tư số
26/2013/TT-BLĐTBXH, bao gồm các công việc ảnh hưởng xấu tới chức năng sinh đẻ
và nuôi con của lao động nữ như công việc trực tiếp nấu chả và rót kim loại nóng
chảy ở các lò, cán kim lại, trực tiếp luyện quặng kim loại màu, khoan tham dò,
khoan nổ bắn mình,… hay những công việc thường xuyên ngâm mình dười nước (trộn
bê tông dưới nước, thợ lặn,…) hay những công việc thường xuyên dưới hầm mỏ.
Ngoài ra, nhà
nước còn nghiêm cấm việc các doanh nghiệp hay người sử dụng lao động nữ đặt ra
các quy định riêng hay điều kiện để tuyển dụng lao động nữ, như trong thời hạn
05 năm làm việc không được kết hôn hay mang thai, chấm dứt hợp đồng lao động nữ
khi đang mang thai,…
2.3. Quy định về thời giờ làm việc,
thời giờ nghỉ ngơi, việc bảo vệ chế độ thai sản đối và nghỉ chế độ thai sản với
lao động nữ
Xuất phát từ những đặc điểm cấu tạo
cơ thể, sinh lý cũng như thiên chức làm mẹ của người phụ nữ, trong quá trình sử
dụng lao động nữ người sử dụng lao động cần phải tuân thủ các quy định về thời
giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi đối với lao động nữ đồng thời bảo đảm việc bảo
vệ chế độ thai sản đối với lao động nữ được quy định cụ thể tại Điều 155 Bộ Luật
Lao động 2012. Theo đó:
-
Người sử dụng lao động không được sử dụng lao động nữ làm việc ban đêm, làm việc
thêm giờ và đi công tác xa trong các trường hợp sau:
+
Mang thai từ tháng thứ 07 hoặc từ tháng thứ 06 nếu làm việc ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải
đảo;
+
Đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.
- Lao động nữ
làm công việc nặng nhọc khi mang thai từ tháng thứ 07, được chuyển làm
công việc nhẹ hơn hoặc được giảm bớt 01 giờ làm việc hằng ngày mà vẫn hưởng đủ
lương.
-
Người sử dụng lao động không được sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao
động đối với lao động nữ vì lý do kết hôn, mang thai, nghỉ thai sản, nuôi con
dưới 12 tháng tuổi, trừ trường hợp người sử dụng lao động là cá nhân chết, bị
Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết hoặc người
sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động.
-
Trong thời gian mang thai, nghỉ hưởng chế độ khi sinh con theo quy định của
pháp luật về bảo hiểm xã hội, nuôi con dưới 12 tháng tuổi, lao động nữ không bị
xử lý kỷ luật lao động.
-
Lao động nữ trong thời gian hành kinh được nghỉ mỗi ngày 30 phút; trong thời
gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi, được nghỉ mỗi ngày 60 phút trong thời gian
làm việc. Thời gian nghỉ vẫn được hưởng đủ tiền lương theo hợp đồng lao động.
Đồng
thời, bên cạnh việc đảm bảo thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi cũng như bảo
đảm chế độ thai sản, thì lao động nữ còn được đảm bảo các chế độ khi nghỉ thai
sản được quy định tại Điều 157, 158 và 159 Bộ Luật Lao động 2012 Mục 2 Chương
III Luật Bảo hiểm xã hội năm 2016 và được hướng dẫn cụ thể tại Công văn số
1477/BHXH-CSXH. Theo đó:
-
Lao động nữ được nghỉ trước và sau khi sinh con là 06 tháng. Trường hợp lao động
nữ sinh đôi trở lên thì tính từ con thứ 02 trở đi, cứ mỗi con, người mẹ được
nghỉ thêm 01 tháng. Thời gian nghỉ trước khi sinh tối đa không quá 02 tháng.
-
Trong thời
gian mang thai, lao động nữ được
nghỉ việc để đi khám thai 05 lần, mỗi lần 01 ngày; trường hợp ở xa cơ sở khám bệnh,
chữa bệnh hoặc người mang thai có bệnh lý hoặc thai không bình thường thì được
nghỉ 02 ngày cho mỗi lần khám thai.
-
Trong thời gian nghỉ thai sản, lao động nữ được hưởng chế độ thai sản theo quy
định của pháp luật về bảo hiểm xã hội. Theo đó, thông thường Mức hưởng một tháng bằng 100% mức bình quân tiền lương
tháng đóng bảo hiểm xã hội của 06 tháng trước khi nghỉ việc hưởng chế độ thai sản
-
Hết thời gian nghỉ thai sản theo quy định, nếu có nhu cầu, lao động nữ có thể
nghỉ thêm một thời gian không hưởng lương theo thoả thuận với người sử dụng lao
động.
-
Trước khi hết thời gian nghỉ thai sản theo quy định tại khoản 1 Điều này, nếu
có nhu cầu, có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về việc đi
làm sớm không có hại cho sức khỏe của người lao động và được người sử dụng lao
động đồng ý, lao động nữ có thể trở lại làm việc khi đã nghỉ ít nhất được 04
tháng. Trong trường hợp này, ngoài tiền lương của những ngày làm việc do người
sử dụng lao động trả, lao động nữ vẫn tiếp tục được hưởng trợ cấp thai sản theo
quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.
-
Bảo đảm việc làm cho lao động nữ nghỉ thai sản khi trở lại làm việc hoặc hết thời
hạn nghỉ thai sản theo quy định. Trường hợp công việc làm cũ không còn thì người
sử dụng lao động phải bố trí việc làm khác cho họ với mức lương không thấp hơn
mức lương trước khi nghỉ thai sản.
-
Ngoài ra, lao động nữ còn được trợ cấp khi nghỉ để chăm sóc con ốm, khám thai,
thực hiện các biện pháp tránh thai. Thời gian nghỉ việc khi khám thai, sẩy
thai, nạo, hút thai, thai chết lưu, phá thai bệnh lý, thực hiện các biện pháp
tránh thai, chăm sóc con dười 07 tuổi ốm đau, nuôi con dưới 06 tháng tuổi, lao
động nữ được hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội theo quy định của luật bảo hiểm xã hội.
x
Nhận xét
Đăng nhận xét