QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ BẢO HỘ LAO ĐỘNG
1. Khái niệm
Dưới góc độ pháp lý, bảo
hộ lao động được hiểu là các chế định bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật
do nhà nước ban hành, xác định các điều kiện lao động an toàn và vệ sinh có
tính chất bắt buộc, các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn hoặc khắc phục những yếu
tố nguy hiểm, độc hại trong môi trường lao động nhằm bảo vệ tính mạng, sức khỏe,
nhân cách người lao động
Trong từ điển tiếng Việt,
Bảo hộ Lao động được giải thích như sau: Bảo hộ lao động là đảm bảo điều
kiện lao động an toàn và bảo vệ sức khỏe người lao động trong quá trình lao
động ( toàn bộ những biện pháp nhằm bảo hộ lao động nói chung)
2. Nguyên tắc nhà nước thống nhất quản lý về bảo hộ
lao động
2.1. Nhà nước phải thống
nhất quản lý về bảo hộ lao động vì:
Xuất phát từ tầm quan trọng
của bảo hộ lao động vì một quá trình lao động có thể tồn tại một hoặc nhiều yếu
tố nguy hiểm, có hại. Nếu không được phòng ngừa, ngăn chặn, chúng có thể tác
động vào con người gây chấn thương, gây bệnh nghề nghiệp, làm giảm sút, làm mất
khả năng lao động hoặc gây tử vong. Cho nên việc chăm lo cải thiện điều kiện
lao động, đảm bảo nơi làm việc an toàn, vệ sinh là một trong những nhiệm vụ
trọng yếu để phát triển sản xuất, tăng năng suất lao động. Đảng và Nhà nước ta
luôn quan tâm đến công tác bảo hộ lao động động, coi đây là một nhiệm vụ quan
trọng trong quá trình lao động, nhằm mục đích:
- Đảm bảo an toàn thân thể
người lao động, hạn chế đến mức thấp nhất, hoặc không để xảy ra tai nạn trong
lao động.
- Đảm bảo cho người lao
động mạnh khỏe, không bị mắc bệnh nghề nghiệp hoặc các bệnh tật khác do điều
kiện lao động không tốt gây nên.
- Bồi dưỡng phục hồi kịp
thời và duy trì sức khỏe, khả năng lao động cho người lao động.
2.2. Nguyên tắc này đã được thể hiện trong
các quy định của pháp luật hiện hành cụ thể:
Vai trò của nhà nước trong
việc thống nhất quản lý hoạt động bảo hộ lao động được thể hiện ở việc Nhà nước
lập chương trình quốc gia về bảo hộ lao động thể hiện ở việc Nhà nước lập
chương trình quốc gia về bảo hộ lao động , ban hành các văn bản pháp luật, đầu
tư nghiên cứu khoa học về bảo hộ lao động, hỗ trợ phát triển các cơ sở sản xuất
trang thiết bị an toàn, vệ sinh lao động. Quy định về quyền và nghĩa vụ của
người sử dụng lao động, thanh tra, kiểm tra an toàn vệ sinh lao
động, xử lý các vi phạm về an toàn vệ sinh lao động, hợp tác quốc tế
trong lĩnh vực an toàn vệ sinh lao động… Điều này đã được quy định cụ thể tại
Điều 134 và Điều 135 Bộ Luật lao động 2012:
1. Nhà nước đầu tư nghiên
cứu khoa học, hỗ trợ phát triển các cơ sở sản xuất dụng cụ, thiết bị an toàn
lao động, vệ sinh lao động, phương tiện bảo vệ cá nhân.
2. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
xây dựng trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định Chương trình an toàn lao
động, vệ sinh lao động trong phạm vi địa phương và đưa vào kế hoạch phát triển
kinh tế - xã hội”
Vai trò quản lý của Nhà nước còn được thể hiện trong việc ban hành
các văn bản pháp luật về bảo hộ lao động, hướng dẫn việc thực hiện, thanh tra
và xử lý vi phạm pháp luật về bảo hộ lao động. Nhà nước cũng có các kế hoạch hỗ
trợ các doanh nghiệp khi thực hiện cac biện pháp bảo hộ lao động nhằm làm giảm
bớt chi phí tài chính và tăng tính chuyên nghiệp, điều này được thể hiện trong
quy định :
“Bộ
Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa
phương xây dựng, ban hành và hướng dẫn tổ chức thực hiện các quy chuẩn kỹ thuật
quốc gia về an toàn lao động, vệ sinh lao động”[1]
[1] Khoản 1 Điều 136 Bộ
Luật Lao động 2013
Nhận xét
Đăng nhận xét