QUYỀN ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG

Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận về giữa người sử dụng lao động và người lao động về việc thực hiện công việc nhất định mà theo đó người sử dụng lao động sẽ trả lương cho người lao động để thực hiện công việc đó. Việc giao kết này được thực hiện theo quy định của pháp luật lao động. Trong đó, khi người lao động thực hiện việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động ngoài việc phải tuân thủ quy định trong HĐLĐ đã giao kết thì phải tuân thủ các quy định về việc đơn phương chấm dứt HĐLĐ theo quy định của Bộ luật lao động và các văn bản hướng dẫn thi hành.
1. Thứ nhất, đối với loại hợp đồng xác định thời hạn, hợp đồng mùa vụ hoặc hợp đồng có thời hạn dưới 12 tháng. Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động khi.
2. Người sử dụng lao động bố trí làm công việc, địa điểm làm việc hoặc không bảo đảm các điều kiện làm việc theo thỏa thuận được ghi nhận trong hợp đồng hoặc quy chế, nội quy lao động.
3. Người sử dụng lao động không trả lương hoặc trả lương không đúng thời hạn trong hợp đồng lao động. Khi chấm dứt HĐ ngoài việc trả đủ tiền lương, người sử dụng lao động còn phải trả khoản tiền lãi liên quan đến việc chậm trả tiền lương.
4. Người lao động bị người sử dụng lao động ngược đã, đánh đập, có lời nói, hành vi nhục mạ, hành vi làm ảnh hướng đến sức khỏe, danh dự, nhâm phẩm người lao động. Hoặc người lao động bị cưỡng bức lao động. Hoặc bị người sử dụng lao động quấy rối tình dục tại nơi làm việc.
5. Người lao động hoặc bản thân gia đình người lao động có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không thể tiếp tục thực hiện công việc hay thỏa thuận trong hợp đồng lao động.
6. Người lao động được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy cơ quan nhà nước theo quy định của Luật Cán bộ công chức, Luật viên chức.
7. Người lao động nữ mang thai buộc phải nghỉ việc theo chỉ định, giám định của cơ sở y tế, cơ sở khám chữa bệnh có thẩm quyền mà việc tiếp tục thực hiện công việc trong HĐLĐ có thể gây ảnh hưởng đến sức khỏe của người lao động nữ và thai nhi.
8. Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị liên tục trong thời hạn 90 ngày nhưng không có khả năng quay trở lại thực hiện hợp đồng lao động đối với HĐLĐ xác định thời hạn từ 12 đến dưới 36 tháng. Hoặc người lao động điều trị liên tục 1/4 thời gian theo HĐLĐ theo mùa vụ hoặc theo công việc trong HĐLĐ xác định dưới 12 tháng theo quy định mà không có khả năng phục hồi.
Lưu ý: Khi thực hiện đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động người lao động phải đảm bảo thời hạn báo trước như sau:
+ Với các trường hợp 1, 2, 3 và 8 người lao động báo trước ít nhất 03 ngày khi thực hiện việc nghỉ việc.
- Với trường hợp 7, thời hạn mà lao động nữ phải báo trước cho người sử dụng lao động tuỳ thuộc vào thời hạn do cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền chỉ định.
- Với các trường hợp khác, người lao động đảm bảo thời hạn báo trước là 30 ngày đối với HĐLĐ xác định thời hạn từ 12 đến dưới 36 tháng và ít nhất 3 ngày làm việc đối với HĐLĐ mùa vụ hoặc xác định thời hạn dưới 12 tháng.
9. Trường hợp người lao động làm việc theo HĐLĐ xác định thời hạn thì có quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ nhưng phải báo trước 45 ngày cho người sử dụng lao động.
x

Nhận xét

Bài đăng phổ biến