TÌNH HUỐNG: CHẾ ĐỘ AN SINH ĐỐI VỚI THƯƠNG BINH

TÌNH HUỐNG
Anh N là thương binh suy gảm khả năng lao động 45%. Năm 1995, anh chuyển ngành làm việc tại một công ty đóng trên địa bàn tỉnh HP. Tháng 5/2014, trên đường đi làm về, anh N bị tai nạn giao thông phải vào viện điều trị 2 tháng. Sau khi ra viện, do doanh nghiệp thay đổi công nghệ nên anh N bị mất việc làm.
          Hãy giải quyết quyền lợi cho anh N theo quy định của pháp luật an sinh xã hội hiện hành.
           TRẢ LỜI: 
1. Chế độ an sinh đối với thương binh suy giảm khả năng lao động 45%
          Theo như tình huống đưa ra, anh N là thương binh suy giảm khả năng lao động là 45%. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 19 Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng hội số 26/2005/PL-UBTVQH11 ngày 29/6/2005 và Pháp lệnh số 04/2012/PL-UBTVQH13 sửa đổi, bổ sung một số điều Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng thì: “Thương binh là quân nhân, công an nhân dân bị thương làm suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên…”. Bao gồm các trường hợp như chiến đấu hoặc trực tiếp phục vụ chiến đấu; Bị bắt, tra tấn vẫn không chịu khuất phục, kiên quyết đấu tranh, để lại thương tích thực thể; làm nghĩa vụ quốc tế; đấu tranh chống tội phạm;…..
          Theo đó, căn cứ vào Mục 25 Phụ lục II Nghị định số 101/2013/NĐ-CP Quy định mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có công với cách mạng thì anh N được hưởng 1.760.000 đồng đối với trường hợp thương binh bị suy giảm khả năng lao động là 45%.
2. Chế độ đối trường hợp anh N bị tai nạn giao thông
          Anh N trên đường đi làm về bị tai nạn giao thông, phải nằm viện điều trị 2 tháng. Như vậy, để xác định xem anh N trong trường hợp này có phải bị tai nạn lao động hay không thì trước hết, tai nạn lao động được hiểu là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể hoặc gây tử vong cho người lao động, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động,…. Tai nạn được coi là tai nạn lao động là tai nạn xảy ra tại địa điểm và thời gian hợp lý khi người lao động đi từ nơi ở đến nơi làm việc, từ nơi làm việc về nơi ở  (Khoản 1 Điều 144 Bộ Luật lao động 2012 và Khoản 1, 2 Điều 12 Nghị định 45/2013/NĐ-CP).
          Theo đó, một tai nạn được coi là tai nạn lao động khi thuộc một trong các trường hợp sau đây (Khoản 1 Điều 43 Luật Bảo hiểm xã hội 2014):
          + Tai nạn đó là tai nạn tại nơi làm việc và trong giờ làm việc
          + Tai nạn đó là tai nạn ngoài giờ làm việc hoặc ngoài giờ làm việc khi thực hiện công việc theo yêu cầu của người sử dụng lao động.
          + Tai nạn trên tuyến đường đi từ nơi ở đến nơi làm việc hoặc từ nơi làm việc về nơi ở trong khoản thời gian hoặc tuyến đường hợp lý;
          Căn cứ vào những quy định trên, để xác định chế độ an sinh mà anh N được hưởng theo quy định của pháp luật thì cần phải xác định xem tai nạn giao thông mà anh N gặp phải có phải là tai nạn trên tuyến đường đi từ nơi ở đến nơi làm việc hoặc từ nơi làm việc về nơi ở trong khoảng thời gian và tuyến đường hợp lý không.
a) Trường hợp tai nạn của anh N là tai nạn lao động thì chế độ an sinh mà anh N sẽ được hưởng như sau:
          Do anh N bị tai nạn lao động trong quá trình làm việc (như đã phân tích ở trên) nên anh N sẽ được hưởng chế độ tai nạn lao động theo quy định tại Mục 3 Chương III Luật Bảo hiểm xã hội 2014 đồng thời được hưởng các quyền theo quy định tại Điều 144 và 145 Bộ Luật lao động 2012. Theo đó, anh N được
          - Thanh toán phần chi phí từ khi sơ cứu cấp cứu đến khi điều trị ổn định do Bảo hiểm xã hội và người sử dụng lao động tri trả. Đồng thời, thanh toán các khoản trong bảo hiểm y tế. Do anh N thuộc đối tượng thương binh (người có công với cách mạng nên anh được hưởng 100% chế độ bảo hiểm y tế. (Điều 144, 145 Bộ Luật lao động 2012 và Điểm a Khoản 1 Điều 22 Luật Bảo hiểm Y tế 2006)
          - Quyền được giám định lại sức khỏe do suy giảm khả năng lao động (Điều 45 Luật Bảo hiểm xã hội 2014)
          - Được hưởng trợ cấp hàng tháng do suy giảm khả năng lao động (do anh N trước đó đã suy giảm 45% khả năng lao động) theo quy định tại Điều 47 Luật Bảo hiểm xã hội 2014. Theo đó mức trợ cấp hàng tháng tương ứng như sau: suy giảm 31% khả năng lao động thì được hưởng 30% mức lương cơ sở, sau đó cứ suy giảm thêm 1% thì được hưởng thêm 2% mức lương cơ sở.
Ngoài ra, anh N còn được hưởng thêm khoản trợ cấp theo số năm đóng bảo hiểm xã hội, từ 1 năm trở xuống tính bằng 0,5%, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội được tính thêm 0,3% mức tiền lương đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ để điều trị. Do anh đóng bảo hiểm xã hội từ năm 1994 đến tháng 5/2014 (thời điểm anh bị tại nạn) do vậy anh có 19 năm 5 tháng đóng bảo hiểm xã hội nên anh được hưởng 6,05% (0,5 + (18 năm 5 tháng × 0,3%)) mức tiền lương đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ đề điều trị
- Đồng thời, anh N còn được trợ cấp phương tiện trợ giúp, sinh hoạt, dụng cụ chỉnh hình nếu bị tổn thương các chức năng hoạt động của cơ thể theo quy định tại Điều 48 Luật Bảo hiểm xã hội.
- Ngoài ra, trong trường hợp anh N sau điều trị ổn định thương tật do tai nạn mà sức khỏe chưa phục hồi thì được nghỉ dưỡng phục hồi sức khỏe thêm từ 05 -10 ngày. Mức hưởng một ngày bằng 25% mức lương cơ sở nếu nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe tại gia đình; bằng 40% mức lương cơ sở nếu nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ tại cơ sở tập trung. (Điều 52 Luật Bảo hiểm xã hội 2014).
b) Trường hợp tai nạn của anh N không phải là tai nạn lao động.
Trong trường hợp anh N không phải là tai nạn lao động theo như quy định trên, thì anh N sẽ được hưởng chế độ ốm đau theo quy định tại Mục I Chương III Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014. Theo đó: “Bị ốm đau, tai nạn mà không phải là tai nạn lao động phải nghỉ việc và có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền theo quy định của Bộ Y tế” (Khoản 1 Điều 25 Luật BHXH 2014). Và anh N sẽ được hưởng:
Thứ nhất về thời gian hưởng chế độ ốm đau, do anh N đóng bảo hiểm từ năm 1994 đến thời gian anh bị tai nạn là tháng 5/2014 nên anh được hưởng mức thời gian tối đa hưởng chế độ ốm đau là 40 ngày/năm với số năm đóng bảo hiểm là 19 năm 5 tháng (Điểm a Khoản 1 Điều 26 Luật BHXH 2014).
Thứ hai, về mức hưởng chế độ ốm đau của anh N là 75% tiền lương đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc (Khoản 1 Điều 28 Luật BHXH 2014).
Thứ ba, trong trường hợp anh N đã nghỉ việc hưởng chế độ ốm đau đủ thời gian trong một năm theo quy định trong khoảng 30 ngày đầu trở lại làm việc mà sức khỏe chưa được phục hồi thì được nghỉ dưỡng, phục hồi sức khỏe từ 05 -10 ngày. Mức hưởng dưỡng sức, phục hồi sức khỏe khi ốm đâu là bằng 30% tháng lương cơ sở (Điều 29 Luật Bảo hiểm xã hội 2014).
Thứ tư, anh được hưởng các chế độ chi trả của bảo hiểm y tế, theo quy định của Luật Bảo hiểm y tế 2008 với mức hưởng 100% theo quy định
3. Chế độ an sinh đối với việc anh N bị mất việc.
          Theo quy định tại Khoản 1 Điều 44 thì trường hợp thay đổi cơ cấu, công nghệ mà ảnh hướng đến việc làm của nhiều người lao động, thì người sử sử dụng lao động phải có trách nhiệm xây dựng và thực hiện phương án sử dụng lao động theo quy đinh … trong trường hợp người sử dụng lao động không thể giải quyết được việc làm mới mà phải cho người lao động thôi việc thì phải trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động theo quy định.
Như vậy, trong trường hợp này, anh N bị công ty cho thôi việc vì lý do thay đổi công nghệ là hoàn toàn đúng với quy định của pháp luật.
Sau khi mất việc làm anh N sẽ được hưởng chế độ trợ cấp mất việc làm theo quy định tại Điều 49 Bộ Luật Lao động 2012 và trợ cấp thất nghiệp theo quy định của Luật Việc làm năm 2013. Theo đó: Người sử dụng lao động trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ 12 tháng trở lên mà bị mất việc làm thì mỗi năm làm việc trả 01 tháng tiền lương nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương. Thời gian làm việc để tính trợ cấp mất việc làm là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc[1].
          Tính từ thời điểm anh làm việc cho công ty là từ năm 1994 đến ngày 01/01/2009 (thời gian bắt đầu đóng bảo hiểm thất nghiệp) là 15 năm, như vậy Công ty phải trả cho anh bằng 15 tháng tiền lương  bình quân của 06 tháng liền kề trước khi anh N mất việc.
          Đối với trợ cấp thất nghiệp theo quy định của Luật việc làm năm 2013 về Bảo hiểm thất nghiệp thì anh N có 4 năm 5 tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp (tức 53 tháng). Như vậy, căn cứ Điều 47 Luật việc làm 2015 về điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp thì anh N có đủ 12 năm liên tục đóng bảo hiểm thất nghiệp  trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động đối với trường hợp hợp đồng không xác định thời hạn. Do vậy, anh được hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định. Theo đó, căn cứ Điều 50 về mức, thời gian, thời điểm hưởng trợ cấp thì:
          + Anh N được hưởng Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 06 tháng liền kề trước khi thất nghiệp nhưng tối đa không quá 05 lần mức lương cơ sở đối với người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định hoặc không quá 05 lần mức lương tối thiểu vùng theo quy định của Bộ luật lao động đối với người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định tại thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc (Khoản 1 Điều 50 Luật việc làm 2013).
          + Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính theo số tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp, cứ đóng đủ 12 tháng đến đủ 36 tháng thì được hưởng 03 tháng trợ cấp thất nghiệp, sau đó, cứ đóng đủ thêm 12 tháng thì được hưởng thêm 01 tháng trợ cấp thất nghiệp nhưng tối đa không quá 12 tháng. Tính từ thời điểm anh đóng bảo hiểm (01/01/2009) đến lúc anh nghỉ việc là tháng 5/2014 anh làm việc tổng cộng là 53 tháng, do vậy anh được hưởng 4,5 tháng tiền trợ cấp thất nghiệp theo quy định (Khoản 2 Điều 50 Luật việc làm 2013)
          + Thời điểm anh hưởng trợ cấp thất nghiệp tính từ ngày 16, kể từ ngày nộp đủ hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định.


x

[1] Xem quy định tại Điều 49 Bộ Luật Lao động.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến